Cách sử dụng truyền thống mang nhiều lợi ích của náng hoa trắng

05/07/2022 11:20 AM

Náng hoa trắng, thường được gọi là củ độc, là một loài thực vật được trồng rộng rãi ở nhiều vùng ấm áp làm cây cảnh. Nó là một loại củ lâu năm mềm trong họ hoa huệ. Cây có nguồn gốc từ các đảo Ấn Độ Dương, Đông Á, Châu Á nhiệt đới, Úc và các đảo Thái Bình Dương. Loài thực vật này được gọi với tên khoa học là Grand Crinum Lily, Poison Bulb, Spider Lily, Seashore Lily, Bakung, Crinum Lily, Asiatic Crinum asiaticum L, Seashore Crinum, Bawang Hutan, Giant Crinum, White Crinum, Grand Crinum, Giant Crinum.

Tên chi Crinum bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp krinon có nghĩa là hoa huệ trắng, dùng để chỉ cây có những bông hoa màu trắng mà hầu hết các loài đều tạo ra. Náng hoa trắng cụ thể liên quan đến loài thực vật có nguồn gốc từ châu Á. Cây được thu hoạch từ tự nhiên để sử dụng làm thuốc tại địa phương. Nó thường được trồng làm cây cảnh ở các khu vực nhiệt đới, được đánh giá cao đặc biệt là vì những bông hoa rực rỡ của nó. Nó là một loại cây lâu năm hình thành củ tạo ra một chùm hoa lớn, sặc sỡ được đánh giá cao và quý bởi những người làm vườn. Tuy nhiên, tất cả các bộ phận của cây đều độc nếu ăn phải. Một số báo cáo chỉ rõ việc tiếp xúc với nhựa cây có thể gây kích ứng da.

Sự thật về Poison Lily:

Tên tiếng anh thông thường: Poison lily

Tên khoa học: Crinum asiaticum

Bản địa nơi cây thường sống: Các đảo Ấn Độ Dương, Đông Á, Châu Á nhiệt đới, Úc và các đảo Thái Bình Dương. Nó được coi là nhập tịch ở Mexico, Tây Ấn, Florida, Louisiana, nhiều đảo Thái Bình Dương, Madagascar và quần đảo Chagos

Tên thường gọi Nagdaman, Sukhdarshan, Sudarshan, Grand Crinum Lily, Poison Bulb, Spider Lily, Seashore Lily, Bakung, Crinum Lily, Asiatic Poison Lily, Seashore Crinum, Bawang Hutan, Giant Crinum, White Crinum, Grand Crinum, Giant Crinum

Tiếng Anh: Asiatic toxbulb, crinum, lily nhện giả, lily crinum khổng lồ, grand crinum, độc tố, lily nhện, lily nhện trắng, lily crinum, lily độc, lily đầm lầy, lily thuốc giải độc, hoa lily cape, lily Crinum

Việt Nam: Náng hoa trắng, tỏi voi, lá náng, Náng

Thói quen sinh trưởng của thực vật: Cây mọc thẳng, thân thảo, trên cạn, lâu năm, làm cảnh, thân củ

Khí hậu đang phát triển: Các bãi biển đầy cát, các khu vực ven biển khác, vách đá và sườn dốc, biên giới rừng ven biển, rừng ngập mặn và ở độ cao thấp

Đất: Thích đất màu mỡ sâu, thoát nước tốt nhưng có khả năng giữ ẩm, giàu chất hữu cơ

Kích thước cây: cao 5 feet (1,5 m) và tán rộng hơn khoảng 7 feet (2 m)

Gốc: Hệ thống rễ có sợi, đầy tham vọng

Thân: Hợp lại từ các phần, tròn, rắn

Lá: Đơn giản, hình mác hẹp, mọc đối, hình hoa thị dày đặc ở đỉnh thân, phiến không cuống, hình mũi mác thẳng, thường dài 60-130 cm và rộng 10-15 cm, dày và có nhiều thịt.

Mùa ra hoa: tháng 6 đến tháng 8

Hoa: Hoa nhiều hay ít liên tục trong năm; hoa từ 20 đến 30 hoặc nhiều hơn, có mùi thơm, mọc thành chùm ở đỉnh có cuống dài, dày và có hai lá bắc lớn bao quanh. Tràng hoa có vỏ hợp nhất, hình phễu, ống phía trên bầu nhụy dài 8-12 cm, đường kính 4-7 mm, màu xanh lục, các chi gồm sáu đoạn trải rộng 6-12 x 0,7-1,5 cm, thường màu trắng, có sáu sợi dài. , nhị hoa lồi với những sợi tơ màu đỏ.

Hình dạng và kích thước quả: Quả nang hình cầu không đều, ngang 2,5-6,5 cm, với một hoặc một vài hạt lớn màu xanh lục

Màu sắc trái cây: Màu xanh lá cây - Màu xanh lá cây nhạt

Hạt giống: Hạt rộng 2-4,5 cm, to và xốp.

Nhân giống: Bằng hạt hoặc bằng cách phân chia

Hương vị: Ngọt, hăng

Các bộ phận thực vật được sử dụng: Lá, rễ, vỏ cây, quả, hạt, hoa

Sự thật khác: Loài này tích lũy selen, và có thể được sử dụng để làm sạch đất bị ô nhiễm.

Mô tả thực vật 

Cây náng hoa trắng là loài cây hoa độc là một loại cây mọc thẳng, thân thảo, sống trên cạn, sống lâu năm, làm cảnh, có cuống hoa ở giữa trung tâm của cây. Cây thường cao khoảng 1,5 m và một tán lớn hơn khoảng 2 m từ một củ dưới đất có thể có đường kính 5 - 15cm. Cây được tìm thấy mọc ở các bãi cát, các khu vực ven biển khác, vách đá và sườn dốc, biên giới của rừng ven biển, rừng ngập mặn và ở độ cao thấp. Cây ưa đất màu mỡ sâu, thoát nước tốt nhưng có khả năng giữ ẩm, giàu chất hữu cơ. Cây có hệ thống rễ hình sợi, hình thành và thân cây hình tròn, tròn và rắn chắc.

Lá 

Lá ít cuống, đơn giản, hình mác hẹp, mọc đối, hình hoa thị dày đặc ở đỉnh thân, phiến không cuống, hình mác thẳng, thường dài 60-130 cm và rộng 10-15 cm, dày và hơi có thịt ở phần trong lá, không cuống, có nhiều gân song song. gân lá chéo và có màu xanh lục nhạt. Lá có cấu tạo nhiều lông được dùng phổ biến để điều chế dược liệu cao náng hoa trắng .

Hoa 

Cụm hoa gồm một số cuống hoa ngắn mọc ra từ một điểm chung, phần nào giống như những chiếc ô có 10-24 hoa, nhiều cánh và có mùi thơm. Thân hoa mọc thẳng, dài bằng lá, rắn chắc. Cụm hoa hình mũi mác, có màng, dài 6–10 cm. Lá bắc có lót, 3–7 cm. Bao hoa hình ống thon và thẳng, màu trắng lục, dài 7–10 cm, đường kính 1,5–2 mm. Tràng hoa hình nhện, màu trắng, tuyến tính, hình vòng cung, nhỏ dần, dài 4,5-9 cm và rộng 6-9 mm. Các thùy tràng hoa gồm 6 thùy dài 0,5-2,5 cm. Nhị màu đỏ hồng. Sợi dài 4–5 cm. Bao phấn là lớp lót, giảm dần, ca. Dài 1,5 cm trở lên. Buồng hoa trứng có dạng hình trứng, dài tới 2 cm. Thường ra hoa vào giữa tháng sáu đến tháng tám. Hoa thơm về đêm.

Trái cây 

Hoa phụ có sau là quả nang hình cầu tròn không đều, dài 2,5-6,5 cm, với một hoặc một vài hạt lớn màu xanh lục. Hạt to rộng 2-4,5 cm, to và xốp.

Sử dụng truyền thống và lợi ích của náng hoa trắng 

• Lá náng hoa trắng đun sôi dùng tắm, hoặc sắc lấy nước đặc trị phù thũng.

• Lá náng hơ trên than nóng rồi đắp quanh đầu gối cho đầu gối sưng tấy, hoặc đắp lên lưng chừng một giờ để chữa đau lưng.

• Lá và củ được sử dụng để trung hòa chất độc và điều hòa đầy hơi, đờm và nước tiểu.

• Hoa hình bóng đèn được nghiền thành bột nhão để giảm nhiệt do sưng tấy hoặc để chữa vết loét do khóc (tuy nhiên, bột này gây ngứa).

• Hoa hình bóng đèn bao gồm các hợp chất dược chất như ancaloit, đặc biệt là lycorine và crinamine.

• Thuốc đắp làm từ củ tươi hoặc chiết xuất của nó cao dược liệu náng hoa trắng đã được đun nóng, giã nát được dùng để làm giảm chứng loãng xương và bệnh thấp khớp.

• Nước ép của củ tươi được sử dụng như một chất gây nôn, đồng thời nó cũng được nhỏ vào tai để điều trị sưng tấy, đau tai, phù nề.

• Thuốc đắp của lá tươi đã được đun nóng, giã nát, được dùng để chữa trị các vết sưng tấy, bong gân, gãy xương kín, bong gân v.v.

• Nước sắc của lá khô được dùng để rửa trong điều trị bệnh trĩ.

• Lá được đắp trên vết sưng tấy và rễ được dùng để dễ sinh con ở phụ nữ mang thai.

• Những sợi tóc như sợi chỉ từ thân cây được dùng để đắp vào vết cắt.

• Cây được sử dụng để điều trị nhiễm trùng vú và vết thương ở nhiều nước.

• Lá giã nát dùng để rửa đống.

• Trộn với mật ong, chúng được áp dụng cho các vết thương và áp xe.

• Lá và củ là nguồn nguyên liệu dược phẩm có thể được dùng để gây nôn, vì chúng có chứa alkaloid lycorine.

• Trong y học dân tộc, nó được sử dụng để làm dịu cơn đau do nhiều chứng bệnh như nhọt, sưng tấy, đau tai, phù nề, sốt, gãy xương, khiếu nại về đường tiêu hóa, thoát vị, quai bị, thấp khớp, viêm amidan, tiểu khó và nôn mửa, trong số những bệnh khác .

• Cây hay bộ phận của cây được dùng chữa rối loạn tiêu hóa, bệnh ngoài da, sốt, đau tai, mụn nhọt, viêm amidan, quai bị, thoát vị, thấp khớp, tiểu tiện khó, gãy xương, phù thũng, và còn làm thuốc giải độc.

• Các nhà thảo dược dân gian của bộ tộc Tipuri ở Tripura sử dụng củ của cây để điều trị bệnh viêm amidan.

• Nhiều vùng dân cư còn tiêu thụ củ nướng để giết giun trong dạ dày và cũng như một loại thuốc kích thích tình dục.

• Ở một số nước còn dùng củ được rang lên và ăn để chữa bệnh thấp khớp và cọc.

• Nó đã được sử dụng trong y học cổ truyền Thái Lan để giảm các triệu chứng viêm và điều trị viêm xương khớp.

• Lá được sử dụng để điều trị các khớp bị tổn thương, viêm, và đau mắt cá chân và chăm sóc sau sinh trong y học cổ truyền Thái Lan.

• Nó có một danh tiếng y học đáng kể như một loại thuốc dân gian mạnh trong điều trị chấn thương và viêm khớp ở các nước Đông Nam Á.

• Cây đã được sử dụng để chữa bệnh ung thư.

• Lá đã được đun nóng và đun sôi rất hữu ích để điều trị vết thương do mũi tên tẩm độc, vết cắn và vết đốt ở Indonesia.

• Thuốc đắp của lá được đắp vào các vết sưng tấy, sưng khớp, đau thắt lưng, đau nhức và trong các trường hợp đau đầu và sốt ở Malaysia.

• Chất mủ từ lá được bôi lên vết cắt ở Đảo Karkar và ở Simbu, Papua New Guinea.

• Ở nhiều nơi, sợi thân cây được sử dụng để cầm máu và ở New Ireland, nhựa sữa từ thân cây được dùng cho vết thương do cá đá.

• Nước ép thu được từ củ được uống thường xuyên trong 2 tháng để điều trị bệnh lậu ở Papua New Guinea.

• Rễ cắt khúc được nấu chín trong lá chuối, sau đó để nguội và đắp vào chỗ răng đau ở những ngôi làng thuộc Papua New Guinea.

• Rễ được sử dụng ở New Caledonia, Indonesia và Malaysia trong thuốc đắp chữa vết thương, vết loét và sưng tấy.

• Chế phẩm của rễ được dùng để hỗ trợ sinh đẻ và xuất huyết sau khi sinh.

• Lá được đun nóng và đắp vào những chỗ đau lưng ở Micronesia.

• Lá cũng được dùng để rút tinh hoàn vĩnh viễn.

• Ở một số quốc gia châu á như bangladesh, nước ép lá và trái cây được uống khi bụng đói ba lần mỗi ngày trong 14 ngày để điều trị chứng chua và kiết lỵ.

• Người dân địa phương Haryana, Ấn Độ sử dụng củ của cây làm nguồn nguyên liệu thực phẩm chức năng thuốc nhuận tràng và chữa các chứng khó tiểu.

• Lá được ép lấy nước và thu được giải pháp chữa chứng khó tiêu ở đảo quốc Vanuatu.

• Cây được dùng chữa các bệnh về tai mũi họng ở Bắc Gujarat, Ấn Độ.

• Các nhà y học dân gian của các ngôi làng ở Bangladesh sử dụng củ của cây cùng với rễ của cây Ocimum sanctum và ớt đen để điều trị đau bụng kinh.

• Các nhà y học dân gian của quận Rajshahi, Bangladesh sử dụng cây này để điều trị các bệnh về ngực và xu hướng nôn mửa, trong đó rễ cây nghiền nát trộn với gừng và quả của cây hồ tiêu và xoa bóp trên ngực.

• Một nhà y học dân gian ở Bangladesh được cho là sử dụng rễ của cây để trị ho, tiêu đờm và sốt.

• Cộng đồng người dân của Bangladesh sử dụng thân của cây để điều trị bệnh vàng da.

• Nước cốt được chiết xuất từ ​​củ tươi, sau khi phơi nắng dùng bông mềm chà xát lên vùng bị viêm amidan.

• Bộ lạc Tripura của Bangladesh sử dụng nước ép lá trộn với dầu thu được từ hạt cây thầu dầu để điều trị sưng ngón tay hoặc ngón chân.

• Cây được sử dụng bởi các nhà y học dân gian để điều trị chứng thoát vị ở Bangladesh.

• Người dân ở nhiều ngôi làng địa phương ở Malaysia đắp lá nóng lên vùng bị gãy xương.

Các biện pháp phòng ngừa 

• Toàn bộ cây củ độc đều độc, đặc biệt là phần củ.

• Nhựa cây có thể gây kích ứng da.

• Toàn cây bao gồm nhiều loại ancaloit như lycorine và tazettine.

• Khi ăn nhầm có thể gây nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy nặng sau táo bón, thở không đều, mạch nhanh, thân nhiệt tăng, v.v ...; nếu lạm dụng nhiều nguồn nguyên liệu thực phẩm chức năng náng hoa trắng có thể gây tê liệt hệ thần kinh và tử vong.